Những thiên tình sử khiến bạn "đẫm lệ" trong các nền văn hóa

08:46 |

Ngưu Lang - Chức Nữ, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài... được coi là điển hình trong những câu chuyện tình yêu buồn đẫm lệ.

Đối với người Á Đông, mỗi khi nhắc tới ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, ai cũng nghĩ ngay tới mưa ngâu, tới câu chuyện tình buồn giữa Ngưu Lang - Chức Nữ. Tuy nhiên, trong các nền văn hóa xa xưa, đây không phải là thiên tình sử đẫm lệ duy nhất.

Hãy cùng điểm lại những câu chuyện tình yêu đẹp nhưng kết thúc buồn bã từ cổ chí kim…

1. Chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ

Chuyện tình Ngưu Lang – Chức Nữ còn được biết tới với tên gọi Ông Ngâu – Bà Ngâu. Truyện này xuất hiện trong cả văn hóa dân gian Việt Nam lẫn Trung Quốc với những dị bản rất khác nhau.

Trong phiên bản Việt, Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn Chức Nữ là tiên nữ phụ trách công việc dệt vải. Họ yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên, ngày đêm chỉ nghĩ tới người còn lại.
Tình yêu tươi đẹp của Ngưu Lang - Chức Nữ trước khi biến cố xảy tới.

Tình yêu này nồng nhiệt và say đắm tới mức Ngưu Lang bỏ bê việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Về phần Chức Nữ, vì say mê tiếng tiêu réo rắt của Ngưu Lang, nàng trễ nải việc dệt vải được giao.

Ngọc Hoàng sai thiên binh chia cắt Ngưu Lang và Chức Nữ sang hai đầu sông Ngân Hà.

Mối tình này khiến Ngọc Hoàng không hài lòng. Trong lúc tức giận, Ngài bắt cả hai phải xa cách nhau giữa hai đầu sông Ngân. May sao sau này, Ngài cảm thương cuộc tình đẹp của hai người mà cho phép họ gặp nhau mỗi năm một lần.

Hàng vạn con quạ bay tới bắc cầu Ô Thước mỗi dịp đầu tháng Bảy âm lịch.

Ngọc Hoàng cử thợ mộc dưới trần lên trời làm một cây cầu bắc qua sông Ngân cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Song do mỗi người một ý, đám thợ mộc không xây xong cầu đúng hạn của Ngọc Hoàng nên bị hóa thành quạ, phải cùng nhau kết lại thành cầu Ô Thước.

Khoảnh khắc đoàn tụ của Ngưu Lang và Chức Nữ.

Nhờ vậy, cứ vào mùng 7/7 âm lịch hàng năm, Ngưu Lang và Chức Nữ lại vượt cầu Ô Thước để gặp lại nhau. Trong giờ phút tiễn biệt, cả hai đều khóc sướt mướt và luyến tiếc người yêu. Nước mắt của họ rơi xuống trần gian và hóa thành mưa ngâu như chúng ta thường biết.

2. Chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài

So với chuyện tình buồn của Ngưu Lang và Chức Nữ, tình yêu của Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài thậm chí còn éo le và ngang trái hơn rất nhiều.

Trong truyền thuyết Trung Hoa, chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài xảy ra vào thời Đông Tấn (317 - 420). Thời ấy, Chúc Anh Đài là một thiếu nữ thông minh quê ở Chiết Giang. Vì yêu thích thơ văn nên cô đã cải trang thành con trai để đi học tại trường Nghi Sơn, Hàng Châu. Trên đường đi, cô quen Lương Sơn Bá – một thư sinh học cùng trường.

Tình cảm của Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài nảy nở khi họ cùng học tập với nhau và kết nghĩa huynh đệ.

Học cùng nhau 3 năm, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài vô cùng thân thiết. Về phần mình, Lương Sơn Bá chẳng hề hay biết người huynh đệ kết nghĩa lại chính là một cô gái. Còn Chúc Anh Đài, thời gian bên nhau khiến cô đem lòng yêu Sơn Bá.

Tạo hình hai nhân vật Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài trên phim.

Khi rời trường, cô còn hứa sẽ thu xếp để chàng cưới em gái mình (thực chất là ý nói cô). Lương Sơn Bá sau đó tới nhà Chúc Anh Đài đã phát hiện ra giới tính thật sự của người huynh đệ. Hai người từ đó yêu nhau say đắm, nguyện sống chết cùng nhau.

Trớ trêu thay, cha mẹ Chúc Anh Đài đã hứa gả cô cho Mã Văn Tài - một thiếu gia giàu có. Âu sầu vì duyên tình ngang trái, Lương Sơn Bá lâm bệnh và qua đời khi đang làm quan tri huyện.

Chúc Anh Đài quỳ bên mộ của người yêu đã khuất... 

Câu chuyện kết thúc vào ngày cưới của Chúc Anh Đài khi đoàn rước dâu đi ngang qua mộ Lương Sơn Bá. Khi ấy, một trận cuồng phong nổi lên, Chúc Anh Đài lúc đó đang cúng tế mộ người tình đã khuất bỗng thấy nắp mộ mở ra.

Cả hai hóa thành bươm bướm và mãi mãi quấn quýt bên nhau.

Nàng chẳng hề đắn đo suy nghĩ mà đi thẳng vào và biến mất. Người đời sau kể lại, từ phần mộ của Lương Sơn Bá, một đôi bướm quấn quýt bên nhau bay ra có lẽ cũng chính là hóa thân của đôi tình nhân sẽ mãi ở bên nhau trong kiếp uyên ương hồ điệp.

3. Chuyện tình Artemis – Orion

Không chỉ văn hóa Á Đông mới có những câu chuyện tình buồn mà thần thoại phương Tây cũng không ít mối tình éo le, đau khổ. Trong đó, thiên tình sử của nữ thần Artemis với chàng Orion là một điển hình.

Artemis vốn là nữ thần săn bắn, đã từng lập một lời thề sẽ không bao giờ kết hôn để bảo vệ trinh tiết. Song, trước tài năng và vẻ đẹp của chàng thợ săn Orion, Artemis đã đem lòng say mê ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Artemis - nữ thần Mặt trăng và săn bắn đem lòng yêu một thợ săn người trần là Orion.

Dẫu vậy, dù yêu nhau mãnh liệt, cùng nhau đi săn, ăn tối nhưng Artemis vẫn luôn tuân theo lời thề của mình chưa một lần ngủ với Orion.

Chuyện tình đẹp như mơ của hai người bị chính người anh em sinh đôi của Artemis - thần Mặt trời Apollo ngăn cản. Thần luôn cho rằng dù Artemis có lý trí thế nào cũng sớm muộn gì cũng kết hôn với Orion. Vì vậy, Apollo đã thừa lúc Orion đang bơi xa bờ, nhìn từ xa chỉ thấy đầu chàng là một chấm đen nhỏ trên mặt nước bèn tới gặp Artemis.

Apollo chê khả năng bắn cung của Artemis và thách nàng bắn trúng chấm đen nhỏ đang di chuyển trên đại dương. Vì quá nóng giận trước sự giễu cợt của anh trai, Artemis giương cung và bắn thẳng vào mục tiêu mà Apollo chỉ - đầu của Orion.

Hình ảnh chàng dũng sĩ Orion hóa thân thành một chòm sao trên bầu trời, luôn sát cánh bên nữ thần Artemis.

Mũi tên bay đi rất nhanh và tất nhiên, giết chết Orion. Khi xác chàng dạt vào bờ, Artemis đau đớn tột cùng và nhận ra chính tay mình đã giết chết người yêu. Thần đau buồn và hóa thân xác Orion thành một chòm sao để hàng đêm có thể ở bên cạnh người yêu đã khuất của mình.

4. Chuyện tình Orpheus - Eurydice 

Trong thần thoại Hy Lạp, Orpheus là một đại thi hào và nhạc sĩ lừng danh gắn liền với cây đàn lyre. Tương truyền, tiếng đàn và giọng ca của Orpheus có thể làm xiêu lòng vạn vật, trời đất lẫn thần linh. Orpheus yêu say đắm một người con gái tên Eurydice và cả hai đã quyết định kết hôn.

Tình yêu tươi đẹp giữa Orpheus và nàng Eurydice.

Tuy nhiên, cái kết trong tình yêu của họ lại không hề tốt đẹp. Đúng trong ngày thành hôn, Eurydice bị rắn độc cắn chết. Quá đau đớn và bàng hoàng nhưng vì tình yêu, Orpheus lặn lội tìm đường xuống âm phủ.

Nhờ có tiếng đàn thánh thót, chàng đã làm thần địa ngục Hades cảm động, cho phép Eurydice trở về dương gian với điều kiện: trên đường về, Orpheus phải im lặng và không được ngoái lại nhìn người vợ đi đằng sau.


Orpheus đau lòng vì vợ mới cưới bị rắn cắn chết ngay trong lễ thành hôn.

Nhờ tiếng đàn kì diệu, Orpheus đã thuyết phục được thần Hades cho phép cứu người yêu.

Thế nhưng, gần tới trần gian, vì đi quá lâu mà không nghe thấy tiếng bước chân và hơi thở của người yêu, Orpheus đã ngoái lại phía sau nhìn. Đó là lúc Eurydice vĩnh viễn biến mất, không được phép sống lại nữa, bất chấp Orpheus sau đó đã quỳ 7 ngày 7 đêm ở địa ngục để cầu xin.

Nhưng cũng chính vì tình yêu và sự nóng vội, Eurydice đã vụt mất khỏi tay Orpheus khi gần trở về với dương gian.

Trở lại dương gian, Orpheus không còn quan tâm đến một cô gái nào khác. Chàng cuối cùng bị đánh tới chết bởi những người đàn bà say rượu, kết thúc một câu chuyện tình buồn thảm và bi thương.\

VỀ SỰ TÍCH LƯƠNG SƠN BÁ – CHÚC ANH ĐÀI

08:42 |

Cách đây chừng 4 năm, có một sự kiện văn hóa rất được công luận Trung Quốc để tâm. Ấy là việc một tác phẩm văn học dân gian về tình yêu thuộc loại đẹp nhất của Trung Quốc đã được các học giả, rồi sau đó, sáu thành phố tại Đại Lục cộng tác để chính thức đề nghị tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới.

Thiên tình sử bi thảm và có nguồn gốc từ rất lâu đời ấy, được coi là chuyện tình ”Romeo và Juliet của phương Đông”, xưa nay, vốn rất được ưa chuộng và quen thuộc ở Việt Nam dưới cái tên Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài.

*

Sự tích Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài có từ thời nhà Đông Tấn (317-420), được ghi lại lần đầu vào cuối thời nhà Đường trong cuốn “Tuyên thất chí” của tác giả Trương Độc (cuối thể kỷ thứ IX), cũng như một số tư liệu chính thức khác. Chuyện kể rằng, cô gái trẻ ham học Chúc Anh Đài, người Chiết Giang, cải trang thành con trai tới Hàng Châu học tập tại một trường dành cho nam sinh. Trên đường, cô đã gặp và cảm mến Lương Sơn Bá, một chàng trai đến từ Cối Kê. Cùng học trong 3 năm ròng, hai người trở nên thân thiết, nhưng cô gái không dám tiết lộ bí mật của mình với chàng trai.

Đến khi phải đột ngột chia tay về nhà theo lời gọi của cha mẹ, Chúc Anh Đài bảo rằng cô sẽ thu xếp để Lương Sơn Bá cưới người em gái 16 tuổi, sản phẩm trí tưởng tượng của cô. Chỉ sau đó một thời gian, khi đến thăm nhà Chúc Anh Đài, Lương Sơn Bá mới biết bạn thân của mình là một thiếu nữ và hai người đã yêu thương nhau say đắm. Chàng trai đã đến cầu hôn cô gái, nhưng bị khước từ và đuổi đi vì trước đó, Chúc Anh Đài đã bị cha mẹ mình hứa gả cho Mã Văn Tài, một kẻ bất tài vô dụng.

Vì quá sầu muộn, Lương Sơn Bá - khi đó giữ chức huyện lệnh một huyện thuộc Ninh Ba bây giờ - đã mất tại nhiệm sở. Một chàng Lương được đặt tại Nam Sơn Tiểu Lộ, chỗ đánh dấu buổi gặp gỡ đầu tiên của hai người.

Trong ngày cưới của Chúc Anh Đài, cô gái được hộ tống đến nhà họ Mã bằng đường thủy và con thuyền cứ dừng lại trước một ngôi mộ, không thể đi được vì sóng gió nổi lên ầm ầm. Biết rằng đó là mộ của Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài rời kiệu hoa đến trước mộ khóc thảm thiết và cúng tế; bất ngờ trời tối sầm, phần mộ bỗng mở ra và cô gái gieo mình vào đó. Chúc Anh Đài được chôn cất trong mộ cạnh người cô yêu và Tạ An, khi đó là thừa tướng nhà Tấn, đã tấu biểu cho đề lên mộ câu “nghĩa phụ trủng” (mộ của người vợ có nghĩa). Dân gian truyền rằng từ trong mộ, vụt ra một đôi bướm quấn quít không rời nhau rồi cùng bay đi.

Truyền thuyết Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài đã được dàn dựng thành vô số những vở hí kịch Trung Quốc truyền thống, cũng như nhiều bộ phim ăn khách. Năm 1958, hai nhà soạn nhạc Trung Quốc là Hà Chiêm Hào và Trần Cương đã lấy cảm hứng từ sự tích này để sáng tác “Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc” (bản concerto Lương Chúc dành cho violon), dài chừng nửa tiếng và được liệt là một tác phẩm kinh điển của âm nhạc Trung Quốc hiện đại. Ở phương Tây, mối tình “Romeo và Juliet của phương Đông” được biết đến qua vở ballet “Hồ điệp tình nhân” (Butterfly Lovers), do hai tác giả Randy Strawderman và Jann Paxton sáng tác và dàn dựng, ra mắt vào đầu năm 1982 bởi Nhạc viện North Carolina, Hoa Kỳ.

Tại Việt Nam, tích Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài rất nổi tiếng và thân thuộc trong các loại hình sân khấu dân gian như tuồng, chèo, cải lương…, khiến không ít người nghĩ rằng nó là sự tích của Việt Nam!

*

Ngày nay, đến Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Chiết Giang, nằm bên bờ Bắc con sông Tiền Đường nổi tiếng với sự tích nàng Kiều, một trong những cố đô nơi 14 vị vua Trung Quốc đã trị vì 237 năm qua nhiều vương triều, du khách có rất nhiều điểm đến để có thể “mục sở thị” vẻ đẹp độc nhất vô nhị của mảnh đất được coi là một trong hai “thiên đường hạ giới” của Trung Quốc. (“Thượng giới hữu thiên đường - Hạ giới hữu Tô, Hàng”).

Thế nào du khách cũng phải đến Tây Hồ, thắng cảnh tuyệt mỹ của cả đất nước Trung Hoa - được thi hào Tô Đông Pha ví là có vẻ đẹp như nàng Tây Thi - với hơn 40 danh lam thắng cảnh và 30 địa danh lịch sử. Tản bộ hoặc ngồi thuyền rồng qua những di tích và địa danh vang bóng trong văn học và thư tịch cổ của Tây Hồ như Tô Đê, Bạch Đê, hay “Tây Hồ Thập Cảnh” (10 cảnh đẹp được bình chọn từ đời Tống như Tam Đàn Ấn Nguyệt, Lôi Phong Tháp, Đoạn Kiều Tàn Tuyết…), có thể hướng viên du lịch địa phương cũng lưu ý chúng ta đến Vạn Thông Thư Viện, ngôi trường cổ nơi cặp nam thanh nữ tú Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài từng theo học.



Tuy nhiên, có lẽ không ai có thể bỏ qua “Trường Kiều Bất Trường”, một trong 4 thắng cảnh được gọi là “Hàng Châu Tứ Tuyệt”. Cây cầu nhỏ (tiểu kiều) này dài vỏn vẹn 15 mét, tương truyền là nơi mà vào thuở xa xưa, Lương Sơn Bá phải chia tay Chúc Anh Đài. Đôi trai gái lưu luyến và bịn rịn nhau mãi, không đành để nhau đi, nên cứ đưa nhau qua lại 138 lần, mất đúng một ngày! Cái tên “cầu dài mà không dài”, xuất phát từ sự tích động lòng này của một tình yêu bất diệt!

Hàng Châu là một vùng đất tương đối hòa bình trong lịch sử đẫm máu của Trung Quốc, nên người dân ở đây, từ nhiều đời nay, đã có tiếng là lãng mạn và phong lưu. Phải chăng vì thế mà mảnh đất nay đã là nơi diễn ra những thiên tình sử vượt thời gian, kể từ mối tình “vong quốc” giữa Ngô vương Phù Sai và nàng Tây Thi cách đây 25 thế kỷ, đến những mối tình được thể hiện rất lãng mạn, mạnh mẽ và bi phẫn trong các sự tích Thanh xà - Bạch xà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài…, được coi là khá hiếm hoi trong xã hội phong kiến của Trung Hoa thuở xưa, vốn có cái nhìn ngặt nghèo trước tình yêu đôi lứa.

Có dịp đi dạo trên những tiểu kiều ở Hàng Châu, thưởng thức cảnh trời đất hữu tình và đắm chìm trong những sự tích tình yêu một thời vang bóng, hình dung những bóng hồng kiều diễm “nhân diện đào hoa tương ánh hồng” (hoa đào và mặt người cùng ánh lên sắc hồng - thơ Thôi Hiệu) của Trung Hoa trong quá khứ, hẳn chúng ta sẽ ý thức được hơn bao giờ hết những dòng ca ngợi tình yêu của một thi sĩ Việt Nam:

Cái gì cũng có một thời 
Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban 
Cái gì rồi cũng tiêu tan 
Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ 

Cái gì rồi cũng hư vô 
Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi 
Cái gì rồi cũng rụng rời 
Quả trên Vườn cấm, hoa nơi Địa đàng 

Chỉ còn mãi với thời gian 
Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ…

Phải rồi, tất cả sẽ qua đi, chỉ còn tình yêu vĩnh viễn là ở lại…

Chứng nhân chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài

08:20 |
Cây cầu Trường nằm tại phía đông nam Tây Hồ, Hàng Châu là minh chứng cho câu chuyện tình đẫm nước mắt giữa Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài.

Đến Tây Hồ tại Hàng Châu, Trung Quốc, du khách sẽ không thể bỏ qua 3 cây cầu gắn với các chuyện tình nổi tiếng. Nếu cầu Đoạn Kiều là nơi Hứa Tiên gặp gỡ Bạch Nương Tử trong truyền thuyết Thanh Xà – Bạch Xà, cầu Tây Lãnh ẩn chứa nỗi lòng bi thương của kỹ nữ Tô Tiểu Tiểu thì cầu Trường lại gợi nhắc chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài.

Cầu Trường tại Tây Hồ thuộc Hàng Châu, Trung Quốc. Ảnh: itinerary.


Chuyện kể rằng, vào thời Đông Tấn, khoảng thế kỉ thứ 4, tại Chiết Giang có một thiếu nữ mang tên Chúc Anh Đài thông minh, hiếu học. Vì muốn được học tập thơ văn, nàng cải trang thành nam nhi, đến xin học tại trường Nghi Sơn, Hàng Châu.

Trên quãng đường đến Nghi Sơn, nàng gặp Lương Sơn Bá, một nam sinh đến từ Cối Kê. Hai người kết thành huynh đệ, trở thành đồng môn thân thiết. Anh Đài dần thầm yêu Sơn Bá, nhưng nàng không thể nói ra vì vẫn đang mang phận gái giả trai. Còn Sơn Bá, dù học chung trường, ngủ chung phòng nhưng cũng không hề phát hiện tình cảm cũng như phận nữ nhi của Anh Đài.

Ba năm nhanh chóng qua đi, cha Chúc Anh Đài đổ bệnh nên nàng phải quay về nhà. Trước khi rời Nghi Sơn, Anh Đài nói với Sơn Bá rằng sẽ thu xếp cho chàng gặp gỡ em gái 16 tuổi của nàng. Sau đấy không lâu, Lương Sơn Bá tìm đến Chúc gia. Tại đây, chàng mới nhận ra thân phận nữ nhi của người bạn đồng môn, và rằng người em gái 16 tuổi không có thật. Từ đấy, tình cảm giữa hai người ngày càng thêm say đắm.

Bức tranh minh họa câu chuyện tình ngang trái của Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Ảnh: globallovemuseum.


Bi kịch đến với đôi uyên ương trẻ khi Chúc gia hứa gả Anh Đài cho Mã Văn Tài – cũng là bạn đồng môn của nàng và là một thiếu gia giàu có. Sớm nhận ra Chúc Anh Đài là phận nữ, Văn Tài đem lòng yêu thương và muốn lấy nàng làm vợ. Tuy biết Sơn Bá là một chàng trai tài giỏi tốt bụng, Chúc gia vẫn khước từ lời cầu hôn của chàng và định ngày thành thân giữa Anh Đài và Văn Tài.

Quá sầu muộn vì không thể ở bên Chúc Anh Đài, Lương Sơn Bá lâm bệnh nặng rồi qua đời khi đang làm tri huyện tại Ngân huyện, Ninh Ba. Truyền thuyết kể rằng, vào ngày kiệu hoa của Anh Đài đi về Mã gia, khi ngang qua mộ Sơn Bá, trời bỗng nổi trận cuồng phong lớn, khiến đoàn phải dừng lại.

Nhận ra đó là mộ của người nàng yêu, Chúc Anh Đài đến bên than khóc và làm lễ cúng tế. Bỗng nhiên, phần mộ của Lương Sơn Bá mở ra và Anh Đài gieo mình vào trong đó. Trước khi cửa mộ đóng lại, người ta còn kịp nhìn thấy một đôi bướm quấn quýt vụt bay lên mặt đất.

Người xưa vẫn thường nói “Trường kiều bất trường tình nghĩa trường”, tức cầu không dài nhưng tình nghĩa dài. Tương truyền, cây cầu Trường - có nghĩa "cây cầu dài" là nơi Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài nói lời từ biệt. Không nỡ lìa xa, hai người tiễn nhau qua lại trên cầu tới hàng trăm lần, khiến cây cầu vốn chỉ dài 15 m trở thành quãng đường dài hàng km.