Hãy cùng chúng tôi điểm qua những con đường được cho là nguy hiểm nhất Thế Giới, những con đường với những khúc cua chết chóc, độ cao đến chóng mặt và sự nguy hiểm rình rập quanh nó khiến những phượt thủ cũng phải run tay.
10. Cao tốc Tứ Xuyên - Tây Tạng , Trung Quốc
Cao tốc Tứ Xuyên - Tây Tạng ( Trung Quốc ) bắt đầu từ Thành Đô ở phía Đông tỉnh Tứ Xuyên và kết thúc tại Lhasa ở phía Tây của Tây Tạng, được xem là một trong những con đường nguy hiểm nhất Thế Giới vì thường xuyên xảy ra các vụ sạt lở đất và tuyết trên đoạn đường này. Với sự nguy hiểm đó chẳng mấy bất ngờ khi cứ mỗi 100.000 lượt xe lưu thông qua đây thì có trên 7.500 trường hợp tử vong xảy ra. Vì vậy, khi lưu thông qua con đường này các tài xế phải cần sự tỉnh táo và thận trọng để tránh những tình huống xấu nhất xảy ra với mình.
9. Đường đèo Stelvio, Italy
Với chiều dài hơn 22km, nằm trên độ cao 2,758m, Stelvio là đường đèo cao nhất châu Âu. Ngoài ra với địa hình được kết cấu từ 48 khúc cua dốc và nguy hiểm, Stelvio có mặt trong danh sách những cung đường nguy hiểm nhất Thế Giới.
8. Đường đèo Los Caracoles, Chile
Los Caracoles là tuyến đường nằm ở dãy núi Andes nối Chile với Argentina và chạy ngoằn ngoèo trên một mặt nghiêng dốc đứng với những đoạn cua hết sức nguy hiểm.
Tuy nhiên, con đường này lại được các tài xế đi qua khá thường xuyên và cũng không có tai nạn giao thông nghiêm trọng nào từng xảy ra. Con đường hầu như quanh năm bị nao phủ bởi tuyết nên người lái xe phải thực sự kiên nhẫn mới có thể vượt qua được nó.
7. Đường Skippers Canyon, New Zealand
Skippers Canyon được xếp hạng là một trong những con đường nguy hiểm nhất trên thế giới.
Đặc biệt để có thể đi được con đường này, cần phải có một giấy phép đặc biệt do nước này cung cấp và dùng loại xe thể thao mà giá tiền chỉ từ 385.000 USD để tránh những rủi ro khi đi trên con đường này.
6. Đường đèo Zoji, Ấn Độ
Đường đèo Zoji ở Ấn Độ dài 9km nối liền khu vực Ladakh và Kashmir. Đây là con đường đèo nguy hiểm và cao nhất trên tuyến đường Srinagar-Leh khi có độ cao 3,52km so với mực nước biển và có tới 60 điểm thường xảy ra sạt lở đất.
5. Đường hầm Guoliang , Trung Quốc
Xây dựng từ năm 1972 nhưng đến tháng 1/1977 mới đưa vào sử dụng. Đường hầm thuộc dãy núi Taihang tỉnh Hà Nam, đào dọc theo sườn núi, có chiều dài 1.200 m, cao 5 m và rộng 4 m. Độ nguy hiểm tăng cao bởi đất đá thường xuyên rơi từ trên xuống ở những vách đá chìa ra ở trên.
4. Tuyến đường cao tốc Karakoram, Pakistan
Được xây dựng hàng trăm năm trước bám theo con đường tơ lụa huyền thoại, tuyến đường cao tốc Karakoram là tuyến đường trải nhựa quốc tế nằm ở vĩ độ cao nhất trên thế giới.
Toàn bộ cung đường trải dài hơn 1.200 km băng qua dãy núi Karakoram hùng vĩ, từ khu đô thị Abbottabad của Pakistan cho tới vùng Kashgar của Trung Quốc đều khá hiểm trở và lắc léo. Dọc đường đi là những vùng đất với cảnh núi non ngút ngàn, đầy sức quyến rũ những người ham mê khám phá, trekking và dân leo núi.
3. Đường cao tốc James Dalton, Alaska
Đường cao tốc James Dalton ở Alaska - Mỹ dài 666 km nối liền phía bắc Fairbanks và Deadhorse là một con đường vô cùng trơn trượt và có rất nhiều chướng ngại vật trên đường. James Dalton từng được mệnh danh là con đường nguy hiểm nhất nước Mỹ. Và đặc biệt trên con đường này không hề có một trạm xăng hay khu dân cư nào sinh sống cả, vì vậy hãy kiểm tra thật kỹ nguồn nhiên liệu trong xe của bạn trước khi rẽ vào James Dalton nhé.
2. Con đường Jalalabad–Kabul, Afghanistan
Con đường từ Jalalabad đến Kabul (thủ đô Afghanistan) được mệnh danh là đoạn đường tử thần, với những khúc cua ngoằn ngoèo vượt qua vùng lãnh thổ của Taliban. Tuy nhiên, nguy hiểm không đến từ nhóm khủng bố khét tiếng mà bởi những khúc cua tay áo trên đoạn đường hẹp, cao hơn 600 mét qua các hẻm núi tại Kabul. Những tài xế muốn lái xe qua đây phải có thần kinh thép cùng kinh nghiệm đi đường đèo dày dặn.
1. Đường North Yunga, Bolivia
Bắt đầu từ thủ đô La Paz và kéo dài tới thị trấn đỉnh đồi Coroico, đường North Yungas thuộc địa phận Bolivia nổi tiếng là ‘con đường chết chóc’ hay ‘con đường tử thần’ (“Dead Road”). Con đường kéo dài 60-70 km và nằm trên độ cao 3.660 m so với mực nước biển. Hàng năm có từ 200-300 người thiệt mạng, chính vì thế mà người ta gọi đây là ‘con đường nguy hiểm nhất Thế Giới’. Ở ven con đường có rất nhìu cây thánh giá được cắm cho biết nơi đây có nhìu người tử vong. Tuy vậy nó vẫn thu hút rất nhìu khách đến khám phá và tìm cảm giác mạnh.
Mặc dù không ai muốn điều tồi tệ xảy đến với nơi chúng ta đang sinh sống nhưng nếu không may điều đó trở thành sự thật, 14 địa điểm trong bài viết này có thể là nơi giúp nhân loại sống sót.
Thời tiết tại nhiều vùng đất trên thế giới đang có sự thay đổi khá rõ rệt. Một số quốc gia tại Nam Mỹ như Brazil, Paraguay, Argentina hay Anh đã phải hứng chịu những trận lụt với thiệt hại nặng nề. Ở đâu đó phía Bắc Mỹ và lục địa Châu Âu, nhiều người đang bị ảnh hưởng bởi những trận cuồng phong, lốc xoáy trái mùa.
Rõ ràng khí hậu và mẹ thiên nhiên đang nổi giận do những tác động của con người. Nhưng con người cũng là một sinh vật có khả năng biến đổi và thích nghi như bao loài khác. Để tìm ra lối thoát, chúng ta đang học cách thích nghi với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, con người hoàn toàn có thể dự trù một phương án sơ tán hoặc một địa điểm nào đó phù hợp để bảo vệ cho sự tồn vong của toàn nhân loại.
Trang Business Insider đã tổng hợp 14 địa điểm được cho sẽ là ngôi nhà "trú ẩn" tốt nhất cho nhân loại nếu không may một ngày nào đó, đại họa từ thiên nhiên hoặc vũ trụ xảy đến, chúng ta vẫn có thể sống sót và xây dựng lại mọi thứ. Dưới đây là những địa điểm đó.
1. Iceland
Iceland là một quốc gia bị cô lập và nằm xa Châu Âu nhất. Do đó đây thực sự là một vùng đất rất khó xâm phạm. Quốc gia ở cách xa Anh quốc này có nguồn tài nguyên đủ để phục vụ cho sự sống. Xung quanh Iceland là hệ thống núi lửa tạo ra nguồn năng lượng địa nhiệt vô cùng dồi dào. Bên cạnh đó, vùng nước ven biển có nguồn hải sản phong phú và tài nguyên nước đầy đủ cho hoạt động sống của con người.
2. Tristan da Cunha
Đây là chuỗi năm đảo ở phía Nam Đại Tây Dương và là một quần đảo có người ở nằm xa đất liền nhất trên thế giới. Vị trí của quần đảo nằm cách 2.000 km tính từ vùng đất liền gần nhất. Dân số của quần đảo chỉ có hơn 300 người và có vẻ như quá ít so với diện tích của một quần đảo lớn với hệ động thực vật phong phú.
3. Guam
Lãnh thổ Guam là một hải đảo nằm ở miền Tây Thái Bình Dương và là một lãnh thổ có tổ chức nhưng chưa hợp nhất với Mỹ. Kinh tế của Guam trông chờ chủ yếu vào du lịch và các căn cứ quân sự của Mỹ.
4. Chiang Mai
Là một thành phố bình yên nằm ở phía Bắc Thái Lan, Chiang Mai gần như vẫn duy trì được nét bình yên và ổn định mặc cho những điểm nóng về chiến tranh, ma tuý, thảm sát hay bất ổn chính trị xảy ra triền miên ở quanh biên giới Thái Lan.
5. Denver
Thành phố Denver là thủ phủ lớn nhất của tiểu bang Colorado (Mỹ). Nơi đây có trữ lượng đá phiến dầu rất dồi dào đủ cung cấp để chế biến nhiên liệu. Trong trường hợp xảy ra biến cố chiến tranh hoặc thảm họa, đây là thành phố dễ bảo vệ và phòng thủ nhất ở Mỹ. Denver nằm cách mực nước biển hơn 1,6 km và bao quanh bởi các dãy núi.
Trên thực tế, độ cao của Denver đem lại lợi thế rất nhiều cho thành phố này bởi sự nóng lên toàn cầu giúp cho những vùng đất nông nghiệp quanh đây trở nên vô cùng màu mỡ.
6. Nam Cực
Nam Cực, nơi lạnh giá nhất hành tinh, tại sao không thể trở thành một nơi trú ẩn lý tưởng cho loài người? Mặc dù có thời tiết khắc nghiệt nhất trên hành tinh nhưng cũng chính vì điều đó đã giúp Nam Cực nghiễm nhiên trở thành một nơi hoàn hảo để cứu nhân loại. Nếu có đủ nguồn thức ăn dự trữ và trang phục đủ ấm trong thời gian lánh nạn, Nam Cực sẽ là một chiếc "tủ lạnh khổng lồ" bảo quản thức ăn của bạn luôn tươi ngon.
Vùng núi ở Indonesia có vẻ như không phải là nơi dễ dàng để sinh tồn. Nhưng trong trường hợp cần phải tìm một nơi sinh tồn thì đây là một trong những nơi được đánh giá cao nhất. Vùng núi Puncak Jaya được khẳng định có mỏ vàng lớn nhất thế giới đồng thời cũng là mỏ đồng lớn thứ ba thế giới.
8. Cape Town
Một thành phố yên bình ở phía Nam của Nam Phi. Đây là thành phố đông dân thứ hai tại Nam Phi và có một góc nhìn ra biển vô cùng thuận lợi.
Thành phố Cape Town nổi tiếng với cảng biển lớn nằm bên bờ Đại Tây Dương, đóng một vai trò huyết mạch trong giao thông đường biển quốc tế và những cảnh quan tự nhiên tươi đẹp như Vương quốc thực vật Cape, núi Cái Bàn (Table Mountain) và mũi đất Cape (Mũi Hảo Vọng) vươn dài khoảng 30 km về phía Nam.
Thụy Sỹ là một quốc gia hòa bình và đứng trung lập trong nhiều biến cố chính trị, xung đột trên thế giới gần đây. Quốc gia này cũng được thiên nhiên ban tặng cho khí hậu và thổ nhưỡng rất phù hợp để trồng trọt và sản xuất lương thực.
10. Đảo Necker
Hòn đảo Necker thuộc hoàn toàn quyền sở hữu của ông chủ tập đoàn chuyên kinh doanh dịch vụ hàng không Virgin, Richard Branson. Có vẻ như Branson sẽ sống sót dễ dàng trên một hòn đảo thuộc toàn quyền sở hữu của ông.
11. Tierra del Fuego (Đất Lửa)
Đất Lửa hay còn có tên gọi khác theo tiếng Tây Ban Nha là Tierra del Fuego. Đây là một quần đảo ngăn cách với lục địa Nam Mỹ bởi eo biển Magellan.
Đôi khi tên Tierra del Fuego còn được dùng để gọi hòn đảo lớn nhất trong Đất Lửa. Nó có diện tích 48.100 km2, đứng thứ 29 trên thế giới. Về chủ quyền lãnh thổ, phần phía tây hòn đảo thuộc về Chile, còn phần phía đông thuộc về Argentina. Cực Nam của Đất Lửa là mũi Horn, đồng thời là điểm cực nam của lục địa Nam Mỹ.
Tierra del Fuego được coi là nơi hoàn hảo để tránh bụi phóng xạ hạt nhân và khó xâm lược bởi vị trí hiểm trở và khó tìm.
12. Yukon
Vùng lãnh thổ nằm ở cực Tây của Canada. Tên gọi của vùng lãnh thổ này được đặt theo con sông Yukon có nghĩa là "sông vĩ đại". Với độ cao 5.959 m, núi Logan của Yukon ở trong Vườn quốc gia và Khu bảo tồn Kluane là núi cao nhất ở Canada và cao thứ hai ở Bắc Mỹ (sau Denali). Dân cư ở Yukon khá thưa thớt và nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào chính phủ và ngành du lịch.
Yukon có hệ động thực vật phong phú cho phép dễ dàng săn bắt, hái lượm. Chưa kể nơi đây cũng có nguồn tài nguyên phong phú phục vụ cho việc nhân loại xây dựng lại nền văn minh nếu xảy ra đại họa.
13. Thành phố Kansas
Kansas City là thành phố lớn nhất của tiểu bang Missouri (Mỹ) và là đô thị hạt nhân của Vùng đô thị Kansas City, vùng đô thị lớn thứ hai ở Missouri. Trang Business Insider so sánh, dù cho bất vấn đề gì xảy ra với Mỹ thành phố Kansas vẫn sẽ ổn. Thành phố không có đường bờ biển bao quanh nên tránh được nỗi lo về những cuộc xâm lược theo đường biển hoặc mực nước biển dâng.
Câu chuyện đang rôm rả bên ngoài thang máy bỗng ngưng bặt khi mọi người đặt chân vào bên trong. Phản ứng thường thấy khi vào thang máy là im lặng, nhìn lên trần hoặc xuống sàn và đứng xa nhau càng nhiều càng tốt...
Sử dụng thang máy tưởng như đơn giản nhưng lại là cả một hành trình đáng nhớ dù người ta không mấy khi lưu tâm. Tiến sĩ Lee Gray thuộc Trường ĐH Bắc Carolina (Mỹ) đã dành thời gian để nghiên cứu về ứng xử trong thang máy và được đặt cho biệt danh “Người đàn ông thang máy”.
Giải thích về mục đích công trình nghiên cứu, ông Lee cho biết: “Thang máy đã trở thành một không gian xã hội thú vị. Ở trong thang máy, người ta bỏ qua mọi nghi thức rườm rà. Tuy thú vị nhưng đó lại là nơi khó thể hiện cách ứng xử phù hợp”.
Bình thường, khi đợi thang máy, mọi người có thể cười nói ồn ào nhưng một khi bước vào bên trong, hầu hết người ta đều im lặng và đối mặt với cánh cửa. Nếu thêm một ai đó bước vào, những người bên trong di chuyển để nhường chỗ. Những lúc như vậy, chúng ta mường tượng đến một điệu nhảy trong căn phòng vuông vức và chật hẹp.
Trong thang máy, người ta tránh nhìn vào mắt nhau. (Ảnh: Discovery)
Nếu chỉ có mình bạn trong thang máy, bạn thoải mái làm đủ thứ chuyện. Nếu có thêm một người nữa, hai người thường đứng ở hai góc chéo nhau và giữ khoảng cách tối đa, giống như một quy luật bất thành văn. Đến khi người thứ ba bước vào, một hình tam giác sẽ được hình thành. Và tất yếu, người thứ tư sẽ làm thành một hình vuông với mỗi người án ngữ ở một góc, dành khoảng giữa cho người thứ năm và những người kế tiếp.
Hầu như phản ứng của tất cả mọi người ở trong thang máy là nhìn xuống hoặc nhìn lên, hoặc sử dụng điện thoại trong thời gian chờ đợi.
Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta lại thấy lúng túng khi đặt chân vào thang máy? Theo giáo sư Babette Renneberg, một nhà tâm lý học lâm sàng tại Trường ĐH Tự do Berlin (Đức), lý do chủ yếu là “không có đủ không gian”.
“Thông thường, chúng ta đứng cách người khác một cánh tay. Nhưng trong thang máy, hầu hết phải đứng sát bên cạnh nhau. Điều đó làm mất tự nhiên” - bà Renneberg nói và cho biết thêm với không gian chật chội trong thang máy, mọi người phải hành động để không gây chú ý của người bên cạnh. Cách dễ nhất là tránh ánh mắt của nhau, biểu hiện thường được cho là sự lúng túng trong giao tiếp.
Ông Nick White không may bị mắc kẹt trong thang máy suốt 41 tiếng đồng hồ. (Ảnh: BBC)
Một sự cố hay gặp phải là thang máy bị kẹt giữa chừng, gây hoảng sợ cho những người đang ở bên trong. Nick White, một nhân viên văn phòng ở New York - Mỹ, không may bị mắc kẹt trong thang máy suốt 41 tiếng đồng hồ. Ông kể cảm giác lúc đó không khác gì bị nén trong một ngôi mộ.
Nỗi ám ảnh có thể khiến một số người như ông White từ chối bước vào thang máy lần nào nữa. Tiến sĩ Lee đồng tình với ý kiến cho rằng cảm giác bị động khiến cho mọi người cảm thấy lo lắng. “Bạn đang ở trong một chiếc thang máy chuyển động và không thể kiểm soát cũng như không nhìn thấy động cơ thang máy vận hành” – ông Lee giải thích.
Bỏ qua cảm giác bất an nói trên, tiến sĩ Lee nhận định thang máy thực chất an toàn hơn ô tô và thang cuốn. “Bạn có thể nhìn vào số liệu thống kê và thấy các vụ tai nạn thang máy hàng năm là rất ít. Tất cả mọi người đều hiểu rõ vấn đề và đó là lý do tại sao họ tiếp tục sử dụng thang máy mỗi ngày”.
Giáo sư Renneberg cũng chung nhận định với tiến sĩ Lee. Bà nói: “Chúng ta biết thang máy được tạo ra nhằm phục vụ con người và nó an toàn Vì vậy, họ tin vào thành tựu của khoa học thay vì bản năng sinh tồn”.
Người sói, thây ma, hồn ma.... những sinh vật tiêu biểu cho sự đáng sợ của mùa Halloween không phải tự dưng xuất hiện trong các câu chuyện. Nhiều quái vật có gốc gác từ những nỗi sợ của thời Trung cổ, nhiều sinh vật lại được phóng đại từ hiện tượng có thật trong tự nhiên.
1. Jack-o'-Lanterns
Bí ngô khoét rỗng, thắp nến có tác dụng xua đuổi các linh hồn quỷ dữ trong đêm Giao thừa của người Celtic.
Những quả bí ngô bị khoét rỗng, mô phỏng những khuôn mặt đáng sợ là biểu tượng nổi tiếng nhất của mùa Halloween. Theo các sử gia, hoạt động moi ruột và thắp nến bên trong bí ngô là một tập tục của người Celtic được du nhập vào Mỹ bởi dân di cư Ai len. Tại quê nhà, họ sử dụng củ cải, một loài thực phẩm phổ biến hơn nhưng khí hậu Mỹ thuận lợi cho bí ngô hơn. Những khuôn mặt phát sáng, đáng sợ của bí ngô có tác dụng xua đuổi các linh hồn quỷ dữ lang thang trên đường phố vào đêm 31/10, đêm Giao thừa theo lịch Celtic.
2. Dơi
Thị lực gần như bằng 0, treo ngược mình trên cây và gợi cảm hứng cho những chiến binh đeo mặt nạ. Vì cớ gì mà dơi lại trở thành con vật gắn liền với mùa Halloween? Loài động vật có vú biết bay này có thể “cám ơn” ma cà rồng về việc đó.
Cũng giống như những truyền thuyết về Dracula, một số ít loài dơi có thể hút máu động vật và đôi khi, dơi ma cà rồng còn tấn công cả con người. Sử dụng hàm răng sắc nhọn, chúng sẽ cắn vào cổ hoặc tay của nạn nhân đang ngủ say.
3. Quái vật mình thú đầu dơi Gargoyle
Những tượng quái vật bằng đá này xuất hiện ở các nhà thờ trên khắp thế giới, nhưng không chỉ để dọa tà ma như trong quan niệm của nhiều người. Chúng được lồng vào các công trình đá theo phong cách Gothic ngay từ thế kỷ 13 để làm máng thoát nước cho mái nhà thờ. Phần miệng há rộng với hàm răng đáng sợ của Gargoyle thực chất lại chính là nơi tia nước phụt ra.
4. Phù thủy
Hãy quên đi những chiếc mũ đen nhọn hoắt và chiếc mũi cũng nhọn không kém khi hình dung về phù thủy. Hai biểu tượng phổ biến này thực ra chỉ mới xuất hiện tương đối gần đây, nếu so với lịch sử lâu dài và bi kịch của phù thủy trên khắp thế giới. Trong quá khứ, phù thủy là những người được cho là sở hữu sức mạnh ma thuật và kết nối được với thế giới tự nhiên. Thế nhưng cũng như nhiều tín ngưỡng cổ xưa khác, họ đã bị nhà thờ Thiên chúa giáo quy là ma quỷ và tiến hành săn đuổi khắp châu Âu thời Trung cổ hay tại châu Mỹ từ thế kỷ 17.
5. Thây ma
Không phải chỉ có loài người mới nảy sinh được thây ma zombie. Năm 1940, các nhà khoa học Nga đã công bố video quay cảnh những chiếc đầu chó sau khi bị chặt vẫn sống được thêm vài giờ nhờ hệ tuần hoàn máu nhân tạo.
Tuy nhiên, thây ma chính là ông vua của những bộ phim kinh dị. Trong phim, chúng được mô tả là những xác chết biết đi, được hồi sinh nhờ ma thuật hoặc một loại virus/hóa chất nào đó. Trên thực tế, nền văn hóa Zombie xuất phát từ tín ngưỡng voodoo của Haiti, vốn tin rằng con người có thể rơi vào trạng thái phi-trí-óc giống như xác chết biết đi trên phim (ngoại trừ việc ăn thịt người). Thậm chí một nhà thực vật học đã tìm ra một loại thảo dược ở Haiti có thể tạo ra trạng thái zombie này.
6. Hồn ma
Để trở thành ma hoàn toàn không đơn giản. Trước hết, một người phải chết đi (trong hoàn cảnh càng thương tâm thì khả năng thành oan hồn càng cao), sau đó linh hồn của họ phải đi lang thang khắp nơi để ám vào các ngôi nhà hoặc tìm kiếm người thân. Đó là trên phim và trong truyền thuyết mùa Halloween. Còn từ góc độ khoa học, nhiều nhà tâm lý siêu nhiên lập luận rằng năng lượng (bao gồm cả năng lượng cơ thể) không bao giờ có thể mất đi. Chúng chỉ chuyển sang dạng thức khác sau khi con người chết đi mà thôi, và đó chính là linh hồn.
7. Người sói
Biến hình và trở nên mất kiểm soát trong những đêm trăng rằm, người sói là những sinh vật bị nguyền rủa xuất hiện trong các truyền thuyết của gần như mọi nền văn hóa từ thời Ai Cập cổ đại. Cũng giống như phù thủy, họ bị săn đuổi trong suốt thời Trung cổ và luôn bị đổ lỗi cho những vụ giết người mà dư luận không thể giải thích được. Và hiện nay vẫn còn nhiều người mắc phải hội chứng rối loạn lông tóc trên cơ thể, một hội chứng có nickname là “bệnh người sói”.
8. Ma cà rồng
Chúng là loài quái vật hút máu đã xuất hiện trong văn hóa dân gian từ hàng ngàn năm nay, dù những phiên bản về “ngủ trong quan tài, răng nanh hút màu” chỉ xuất hiện từ sau thế kỷ 18 tại Tây Âu. Trước đó, người ta tin rằng những đứa trẻ chết ngay sau khi sinh, hoặc những ai có cái chết bất thường, sau khi chôn sẽ sống lại để “khủng bố tinh thần” người sống. Nói cách khác, ma cà rồng là những người bất tử và cần phải hút máu người để duy trì sự bất tử đó.
Gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện thấy hài cốt của một phụ nữ được chôn trong khu mộ dành cho nạn nhân dịch hạch từ thế kỷ 16 ở Ý. Người này bị nhét một cục gạch to trong miệng (như một kiểu yểm bùa tử thi) - một nghi thức chôn mà giới khoa học tin rằng dành riêng cho ma cà rồng.
Nhiều người cho rằng SOS là cụm từ viết tắt của một số câu cầu cứu như “Save Our Ship "; " Save Our Souls " hay " Send Out Succour”, tuy nhiên thực tế không phải vậy.
Tín hiệu cầu cứu SOS
SOS là mã Morse thể hiện tín hiệu nguy hiểm và cầu cứu khẩn cấp. Tín hiệu này được thông qua bởi Chính phủ Đức vào ngày 1 tháng 4 năm 1905 và trở thành tiêu chuẩn quốc tế theo Công ước Radiotelegraphic vào ngày 1 tháng 7 năm 1908. Cho đến nay, SOS vẫn được công nhận là tín hiệu cầu cứu dễ nhận biết nhất.
Nhiều người cho rằng SOS là cụm từ viết tắt của một số câu cầu cứu như“Save Our Ship "; " Save Our Souls " hay " Send Out Succour”. Tuy nhiên trên thực tế SOS không có ý nghĩa riêng của nó, và cũng không phải một cụm từ viết tắt.
Ký hiệu này được sử dụng đơn giản là vì nó dễ nhớ, dễ gửi đi và dễ nhận biết bằng mã Morse. SOS cũng là tín hiệu có 9 yếu tố duy nhất trong mã Morse, khiến cho nó rất dễ nhận biết. Trong mã Mores, SOS được mã hóa thành “ · · · - - - · · · “.
Không chỉ là tín hiệu mã hóa âm thanh, SOS còn được biết đến như tín hiệu cầu cứu bằng thị giác. Nếu bạn có một chiếc đèn pin, bạn có thể phát tín hiệu cầu cứu bằng một đoạn mã hóa gồm, ba lần nháy đèn ngắn, ba lần dài và tiếp đến là ba lần ngắn, giống như trong mã Morse.
Ngoài ra 3 chữ cái SOS có thể được vẽ lên mặt đất hoặc bất kỳ một bề mặt nào để phát đi tín hiệu cầu cứu. Vì 3 chữ cái này có thể nhìn ngược hoặc nhìn từ trên xuống vẫn không thay đổi. Do đó, nó là tín hiệu nguy hiểm và cầu cứu được sử dụng phổ biến nhất thế giới.
Sau này, với sự phát triển của các thiết bị liên lạc, một số cụm từ ngắn khác cũng được sử dụng với ý nghĩa cầu cứu. “Mayday” là một trong những tín hiệu cầu cứu bằng âm thanh phổ biến nhất sau SOS, được thông qua bởi Công ước Quốc tế vào năm 1927. “Mayday” có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “m'aidez” (có nghĩa là giúp tôi).
Trong Thế chiến thứ 2, nhiều loại tín hiệu cảnh báo khác được sử dụng theo từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Ví dụ như SSS để cảnh báo bị tấn công bởi tàu ngầm, RRR để cảnh báo bị tấn công bởi máy bay chiến đấu, AAA để cánh báo máy bay ném bom, QQQ cảnh báo tàu chiến của địch.
Tàu Titanic đã phát đi tín hiệu SOS sau khi đâm phải tảng băng trôi, nhờ đó mà nhiều người được cứu sống khi một con tàu khác nhận được tín hiệu này.
Tuy nhiên tất cả các tín hiệu cảnh báo này đều cần phải gửi đi cùng với tín hiệu SOS. Dưới đây là một ví dụ khi phát đi tín hiệu SOS qua radio hoặc mã Morse:
SOS SOS SOS (tín hiệu cấp cứu) DE (từ) GBTT GBTT GBTT (phòng radio) QUEEN ELIZABETH 2 (tên của con tàu) PSN (vị trí là) 49.06.30 N (độ Bắc) 04.30.20 W (độ tây). ON FIRE (tàu đang cháy) ABANDONING SHIP AR (thủy thủ đoàn và hành khách đang phải rời con tàu) K (kết thúc tín hiệu, ai đó nhận được hãy trả lời).
Tiểu thuyết và điện ảnh khoa học giả tưởng làm phong phú thêm trí sáng tạo con người và thậm chí góp phần không ít cho sự thai nghén nhiều phát kiến độc đáo...
Bốn năm sau khi ra đời bộ phim Minority Report của đạo diễn Stephen Spielberg, bây giờ người ta bắt đầu quen với màn hình trong veo như từng thấy trong bộ phim trên. Ngày 7-8-2006, màn hình trong veo 67 inch (trông hệt tấm kính bình thường nhưng là màn hình sử dụng công nghệ cảm ứng, điều khiển bằng chạm tay) lần đầu tiên được sử dụng cho dây chuyền cửa hàng thời trang Polo Ralph Lauren, được sản xuất bởi Công ty Canada Brookview Technologies, nơi duy nhất thế giới hiện nay nắm công nghệ chế tạo màn hình trong.
Chú gấu robot trong một bộ phim giả tưởng khác của Stephen Spielberg - AI - cũng được nghiên cứu từ Robotic Life Group thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Trung tuần tháng 8-2006, chú gấu máy “Huggable” đã được trình làng tại hội thảo quốc tế về đồ họa máy tính và kỹ thuật tương tác tổ chức ở Boston. Có công dụng làm giảm stress đồng thời làm thay đổi tích cực nồng độ hormone đem lại sự thư giãn, Huggable chứa đầy điện cực và được chương trình hóa bằng thuật toán để phân biệt một số cảm giác khi người ta “cù” hoặc “vuốt ve” nó...
(Ảnh: TTO)
Cách đây không lâu, khi Bộ Quốc phòng Mỹ muốn thiết kế một loại phương tiện cho chiến tranh nội thị, Trung tâm xe quốc gia (National Automotive Center-NAC) thuộc Bộ tư lệnh chiến cụ lập tức liên hệ Hãng Ford và Tập đoàn Nghiên cứu và khái niệm kết nối (ICRC) để phát triển loại phương tiện có thể di chuyển dễ dàng trên mọi địa hình như thấy trong các phim James Bond.
(Ảnh: TTO)
Nhóm ICRC đã ngồi miệt mài nghiên cứu tất cả phim James Bond và cuối cùng mô hình SmarTruck ra đời. Được trang bị súng laser, dàn phóng lựu và thậm chí súng xịt hơi cay, SmarTruck còn có hệ thống camera quan sát 36Oo. Tất cả camera, cửa, cửa sổ, điện thoại, máy vô tuyến trong SmarTruck đều được điều khiển bằng giọng nói...
Bàn ủi (bàn là) là một vật dụng hết sức quen thuộc và cần thiết đối với mỗi gia đình. Đây là công cụ làm phẳng những nếp nhăn của vải giúp quần áo trở nên gọn gàng hơn. Hiện nay, bàn ủi đã trở thành vật dụng sinh hoạt không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày.
Thế nhưng, có bao giờ bạn đặt ra câu hỏi: Người xưa làm cách nào để làm phẳng quần áo? Bàn ủi được phát minh như thế nào? Nó có lịch sử phát triển ra sao?
"Mời" các bạn trở về hơn 2000 năm về trước, vào thời La Mã cổ đại để nhìn lại sự hình thành và phát triển của bàn ủi nhằm trả lời các thắc mắc bên trên nhé.
Thời cổ đại - Các công cụ làm phẳng trang phục thuở sơ khai
Từ hàng nghìn năm trước, con người đã có nhu cầu loại bỏ nếp nhăn hoặc tạo các nếp gấp trên quần áo. Vào thời Hy Lạp cổ đại (năm 400 trước CN) việc ủi quần áo thường được thực hiện bởi các nô lệ do tính chất công việc khá nặng nhọc và mất thời gian. Đó là một nhu cầu xa xỉ của tầng lớp thượng lưu do chỉ những người giàu mới sở hữu nhiều quần áo và nô lệ. Thời gian này, người ta sử dụng những chiếc kẹp sắt đã được nung nóng phần đầu để tạo nếp gấp trên trang phục làm bằng vải lanh.
Mô phỏng công cụ làm phẳng quần áo của người Hy Lạp
Đến thời đế chế La Mã, người ta bắt đầu sử dụng một chiếc - bàn - cán - là - bằng - tay để làm phẳng quần áo. Nó có hình dạng như một chiếc máy chèo phẳng bằng kim loại. Nếp nhăn trên quần áo được loại bỏ bằng cách đánh liên tục vào quần áo bằng "chiếc máy chèo". Một công cụ khác cũng được sử dụng để làm phẳng quần áo trong giai đoạn này là prelum. Đây là công cụ có hình dáng như một chiếc máy ép được làm bằng gỗ. Hai mảnh gỗ được đặt chồng lên nhau và có thể siết chặt lại bằng vít cũng được làm bằng gỗ. Quần áo được đặt vào giữa 2 tấm gỗ, sau đó vặn vít lại để tấm gỗ ép chặt vào quần áo, dùng tạo ra áp lực nhằm loại bỏ vết nhăn.
Bàn cán là được sử dụng bởi người La Mã
Những người Trung Quốc cổ đại cũng từng sử dụng một số công cụ bằng sắt để làm phẳng quần áo. Công cụ phổ biến nhất là một chiếc chảo bằng sắt có hình dáng như một chiếc muỗng lớn. Người ta cho than hồng hoặc cát nóng vào bên trong chiếc muỗng để làm nóng phần đáy. Sau đó di chuyển phần đáy lên bề mặt quần áo để làm phẳng.
Chiếc chảo sắt làm thẳng quần áo của người Trung Quốc cổ
Vào khoảng thế kỷ thứ 10 sau CN, những người Viking đến từ Scandinavia đã sớm tạo nên những chiếc "bàn ủi" bằng thủy tinh. Họ cho rằng thủy tinh có thể lướt trên bề mặt quần áo nhanh hơn và dễ làm phẳng quần áo hơn so với sắt. Những thanh thủy tinh được bo tròn và đặt gần lò sưởi để làm nóng, sau đó sẽ được dùng để di chuyển trên bề mặt quần áo.
Người Viking dùng viên thủy tinh làm nóng đề ủi thẳng quần áo
Thế kỷ 12 đến 14 - Những dấu hiệu đầu tiên của chiếc bàn ủi
Đến khoảng thế kỷ 12, khi thương mại giữa phương Đông và phương Tây bắt đầu phát triển. Thời trang bắt đầu có sự phát triển quan trọng với việc sử dụng hồ may để tạo nên các loại trang phục cầu kỳ hơn. Người ta bắt đầu mặc các loại trang phục có nút tinh xảo hoặc cổ áo gợn sóng. Nhu cầu về một loại công cụ có khả năng tạo ra nhiệt độ và áp suất ngày càng cấp thiết.
Tại Hà Lan vào những năm 1200, người ta chế tạo một công cụ bằng sắt được cán dẹp có hình dáng một chiếc thuyền nhỏ để ủi quần áo. Tuy nhiên, do giới hạn về kỹ thuật luyện kim, các công cụ chưa được chế tạo tinh xảo và sắc cạnh nên gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện những đường ủi đòi hỏi chính xác cao. Công cụ trên có hình dáng tương tự như mặt đế của chiếc bàn ủi ngày nay.
100 năm sau, đến những năm 1300, tận dụng lợi thế của kỹ thuật sản xuất kim loại, người ta có thể chế tạo nên những công cụ có độ tinh xảo cao hơn. Thời bấy giờ, trang phục phổ biến là phần cổ áo dạng bờm lượn sóng. Tại Ý, người ta bắt đầu sử dụng một loại công cụ mang tên Goffering có hình dạng như một chiếc ống sắt đặt ngang trên giá. Sau khi làm nóng ống sắt, họ cuộn tấm vải xung quanh ống sắt để tạo nên chiếc cổ áo xếp nếp lượn sóng vốn rất phổ biến trong thời kỳ Phục Hưng. Đây là quá trình rất mất thời gian nên chỉ có tầng lớp quý tộc mới có thể mặc kiểu trang phục như vậy.
Công cụ tạo cổ áo nếp gấp gợn sóng của người Ý
Sau đó, để giảm bớt thời gian và công sức cho những chiếc nếp xếp lượn sóng trên cổ áo, người ta bắt đầu sử dụng một công cụ khác tên là Fluter (công cụ tạo rãnh). Đây là công cụ gồm phần đế và phần được chế tạo bằng sắt. Ở 2 mặt tiếp xúc đều được khoét các rãnh dọc cách đều nhau. Mảnh vải được đặt vào giữa 2 mảnh sắt, người ta dùng lực tay ấn mạnh để tạo nên những nếp gấp đều nhau. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, người ta vẫn phải đặt một mảnh vải ở giữa mặt tiếp xúc để tránh ống sắt vấy bẩn lên quần áo. Bên cạnh đó, một điểm bất tiện khác là mỗi Fluter chỉ dành riêng cho một kiểu cổ áo xếp nếp nhất định.
Video sử dụng Fluter để tạo nếp gấp
Thế kỷ 15 đến 19 - Chiếc bàn ủi thô sơ đầu tiên xuất hiện
Đến khoảng thế kỷ 15, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật luyện kim, người ta bắt đầu có ý tưởng về một chiếc bàn ủi bằng sắt rỗng ruột có thể chứa than bên trong để làm nóng. Đây là một chiêc hộp sắt rỗng ruột có tay cầm, mặt đế được chế tạo trơn tru để có thể dễ dàng lướt trên bề mặt quần áo đồng thời không để lại các vết bẩn của kim loại. Để làm nóng mặt đế, ngoài than hồng, người ta có thể cho vào bên trong: gạch nung nóng, một thanh kim loại nóng hoặc những thứ khác có thể nung nóng và giữ nhiệt. Người ta đã có thể ủi phẳng quần áo một cách trực tiếp mà không cần phải đặt mảnh vải vào bên dưới mặt đế của chiếc hộp nữa. Đây chính là khuôn mẫu của chiếc bàn ủi hiện đại được sử dụng cho đến ngày nay. Nhược điểm của mô hình bàn ủi này là vẫn chưa thể giữ nhiệt được lâu, đặc biệt là ở phần mũi bàn ủi. Tuy vậy, mẫu bàn ủi trên vẫn được tiếp tục sử dụng gần 400 năm sau đó.
Hình dạng đầu tiên của chiếc bàn ủi với mảnh làm nóng rời
Đến khi phương pháp luyện thép Bessemer được phát minh vào những năm đầu thế kỷ 19, những vấn đề còn tồn động của các mẫu bàn ủi cũ cơ bản đã được giải quyết. Người ta đã có thể chế tạo những chiếc bàn ủi làm toàn bằng thép và được truyền nhiệt bằng cách đặt trên bếp lò. Sức nóng được lan tỏa đều khắp phần đế bao gồm cả vị trí mũi bàn ủi cho phép ủi phẳng được những vị trí phức tạp trên trang phục như xung quanh nút áo, cổ áo,… Tuy vậy, nhược điểm của mẫu bàn ủi thời bấy giờ là vẫn chưa thể giữ được nhiệt lâu. Sau một thời gian ủi nhất định vẫn phải đặt lên bếp lò để làm nóng phần đế. Điều này làm gián đoạn quá trình ủi quần áo và khá mắt thời gian.
Bàn ủi thép nguyên khối
Thế kỷ 20 đến nay - Thời kỳ của những phát minh cải tiến và hoàn thiện chiếc bàn ủi hiện đại
Cho đến giữa thế kỷ 19, các thiết kế bàn ủi vẫn phụ thuộc vào các thợ rèn và ý kiến của những người tiêu dùng. Đã có một số mẫu bàn ủi sẵn sàng để thương mại hóa nhưng vẫn chưa thể khắc phục được nhược điểm là thời gian chờ làm nóng trên bếp lò quá lâu. Năm 1871, Mary Florence Potts, một bà nội trợ người Mỹ đã nhận được bằng phát minh cho chiếc tay cầm bàn ủi có thể tháo rời. Phát minh của Potts cho phép đặt sẵn nhiều đế bàn ủi lên bếp lò để làm nóng mà không cần phải chờ đợi. Khi một chiếc đế đã hết sức nóng, người dùng chỉ cần tháo tay cầm ra và chuyển sang một chiếc đế khác đã được làm nóng sẵn. Potts đặt tên cho thế hệ bàn ủi này là "Sad Iron". Theo ghi chép, lý do bà đặt tên "Sad" cho chiếc bàn ủi do trọng lượng của nó quá nặng và luôn làm hai tay của bà mỏi nhừ khi phải làm việc với nó.
Bàn ủi "Sad Iron" với tay cầm có thể tháo rời
Từ những năm 1800, các ống dẫn ga đã xuất hiện tại hầu hết các ngôi nhà tại Mỹ. Năm 1874, người ta đề xuất ý tưởng chế tạo bàn ủi dùng khí gas để nung nóng phần đế. Một ống dẫn ga được kết nối vào bên trong bàn ủi. Sau đó khí gas được đốt cháy để làm nóng phần đế bàn ủi. Tuy nhiên, phương pháp này nhanh chóng bị loại bỏ do tính chất nguy hiểm vì gas rất dễ bị rò rỉ ra ngoài. Tiếp theo đó, để thay thế cho khí gas, người ta cũng nung nóng bàn ủi bằng các loại nhiên liệu khác như: dầu gasoline, dầu hỏa, nến và một số nhiên liệu khác.
Bàn ủi làm nóng bằng gas
10 năm sau phát minh chiếc tay cầm của Mary Florence Potts, vào những năm 1880, điện cũng bắt đầu trở nên phổ biến đối với mọi gia đình tại Mỹ. Năm 1882, nhà phát minh người Mỹ Henry W. Seeley đã nhận được bằng sáng chế cho "chiếc bàn ủi điện". Đây là chiếc bàn ủi đầu tiên sử dụng điện để làm nóng các dây dẫn gắn với phần đế. Đây chính là chiếc bàn ủi điện đầu tiên của nhân loại và cũng là phát minh điện tử gia dụng duy nhất trong những năm 60 của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chiếc bàn ủi điện này có trọng lượng khá nặng, lên đến 6kg. Nhược điểm của mẫu bàn ủi đầu tiên là không thể kiểm soát được nhiệt độ. Đến năm 1920, nhà phát minh người Anh Joseph Myers cải tiến dây thép truyền nhiệt bên trong bàn ủi thành một dây dẫn có thể thay đổi nhiệt độ bằng bộ điều khiển tự động chế tạo từ bạc nguyên chất. Bộ điều chỉnh nhiệt trên nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn của các thế hệ bàn ủi tiếp theo
Hình ảnh nhà phát minh Henry W. Seeley (1861-1943) và Chiếc bàn ủi điện đầu tiên
Những năm tiếp theo của thế kỷ 20, bàn ủi điện đã phổ biến và thay đổi cách làm phẳng quần áo của hàng triệu bà nội trợ trên khắp nước Mỹ. Tuy vậy, bàn ủi điện vẫn chưa thể hoàn toàn làm quần áo phẳng một cách hoàn hảo được. Người dùng cần một cải tiến khác để nâng hiệu quả ủi quần áo lên một tầm cao mới. Không lâu sau đó, vào năm 1926, kiến trúc sư Thomas Warren Sears (1880 - 1966) cho ra đời chiếc bàn ủi hơi nước đầu tiên. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1940, những chiếc bàn ủi hơi nước đầu tiên mới được chính thức bán ra thị trường bởi công ty Eldec.
Kiến trúc sư Thomas Warren Sears (1880 - 1966). Người đầu tiên chế tạo bàn ủi hơi nước
Tiếp theo đó, vào năm 1995, chiếc bàn ủi có phủ lớp chống dính được chính thức giới thiệu. Đây là bước đột phá trong sự phát triển của bàn ủi hiện đại cho đến ngày nay. Tiếp theo đó là sự thay đổi về chất liệu thân bàn ủi, người ta chuyển sang chế tạo các loại bàn ủi có thân bằng nhựa để có trọng lượng nhẹ hơn. Sau đó là một loạt những cải tiến giúp chiếc bàn ủi có thể điều khiển nhiệt độ chính xác hơn cho nhiều loại chất liệu vải khác nhau và nhiều cải tiến giá trị khác. Tính đến năm 1996, đã có hơn 14 triệu chiếc bàn ủi được bán ra với hàng loạt tính năng tiện ích.
Kết
Hơn 2000 năm với nhiều cải tiến quan trọng, xuất phát với những mảnh kim loại hết sức thô sơ của người La Mã, đến viên thủy tinh của người Viking, đồng hành cùng sự phát triển của thời trang và kỹ thuật luyện kim trong suốt thời Phục Hưng, đến phát minh chiếc tay cầm đơn sơ của một người nội trợ, rồi một loạt những cải tiến quan trọng, cuối cùng sản phẩm lại là chiếc bàn ủi vốn quá quen thuộc đối với mỗi gia đình ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta phần nào nhận thấy được những vật dụng vốn quá bình thường nhưng lại có một lịch sử hình thành và phát triển lâu đời đến thế. Hy vọng, qua bài viết, các bạn phần nào có thể hiểu hơn về những vật dụng xung quanh nhà mình hơn để công việc giặt ủi có thể "vui vẻ" hơn phần nào.